1. Tạm đình chỉ
điều tra
Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm
nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể tạm đình
chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra. Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì
chỉ tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra.
Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm
đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể tạm đình
chỉ điều tra đối với từng bị can.
2. Kết thúc
điều tra
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải làm
bản kết luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản
kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra
bản kết luận điều tra và quyết định đình
chỉ điều tra.
3. Đề nghị
truy tố
- Khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị
can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản kết
luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng
minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ
đề nghị truy tố.
4. Đình chỉ điều
tra
Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra trong
những trường hợp sau đây:
- Có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều
105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69
của Bộ luật Hình sự;
- Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị
can đã thực hiện tội phạm.
5. Phục hồi
điều tra
- Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc
quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi
điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong thời hạn 2
ngày, kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra, CQĐT phải gửi quyết định này
cho VKS cùng cấp.
2. Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại
điểm 5 (Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự) và điểm 6 (Tội phạm đã
được đại xá) Điều 107 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều
tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc VKS cùng cấp ra quyết định phục hồi điều tra.
No comments:
Post a Comment