a) Khám người
- Phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám
đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của
họ.
- Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra
những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến
hành khám.
- Khi khám người thì nam khám nam, nữ khám nữ và phải
có người cùng giới chứng kiến.
- Có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh
trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại
nơi khám xét giấu trong người đồ vật, tài liệu cần thu giữ.
b) Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm
- Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc
người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị
trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong
gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét
không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng
chứng kiến.
- Không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp
không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
- Khi khám chỗ làm việc của một người thì phải có mặt
người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên
bản.
- Việc khám chỗ làm việc phải có đại diện của cơ quan,
tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến.
- Khi tiến hành khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm
những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên
hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xong.
c) Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại
bưu điện
Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu
kiện, bưu phẩm tại bưu điện thì Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ. Lệnh này phải
được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ trường hợp không
thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản và sau khi thu giữ phải thông
báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.
Người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách
cơ quan bưu điện hữu quan trước khi tiến hành thu giữ. Người phụ trách cơ quan
bưu điện hữu quan phải giúp đỡ người thi hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm vụ.
Khi thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm,
phải có đại diện của cơ quan bưu điện chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản.
Cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có
thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết. Nếu thông báo cản trở
việc điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, cơ quan ra lệnh thu giữ
phải thông báo ngay.
d) Tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét
Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật
chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại
cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có
thẩm quyền. Trong trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt
chủ đồ vật hoặc đại diện gia đình, đại diện chính quyền và người chứng kiến.
Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu khi tiến hành khám xét
phải được lập biên bản. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản: một bản giao
cho người chủ đồ vật, tài liệu; một bản đưa vào hồ sơ vụ án; một bản gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý đồ vật, tài liệu bị
tạm giữ.
đ) Kê biên tài sản
- Việc kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị
cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt tiền
cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định
của pháp luật.
- Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị
tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại.
- Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc
người thân thích của họ bảo quản. Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu
dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải
chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 310 của Bộ luật Hình sự.
- Khi tiến hành kê biên tài sản, phải có mặt đương sự
hoặc người đã thành niên trong gia đình, đại diện chính quyền xã, phường, thị
trấn và người láng giềng chứng kiến. Người tiến hành kê biên phải lập biên bản,
ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản phải lập theo quy
định tại Điều 95 và Điều 125 của Bộ luật này, đọc cho đương sự và những người
có mặt nghe và cùng ký tên. Những khiếu nại của đương sự được ghi vào biên bản,
có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên. Biên bản kê biên được
lập thành ba bản: một bản được giao ngay cho đương sự sau khi kê biên xong; một
bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
- Khi xét thấy việc kê biên không còn cần thiết thì
người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải kịp thời
ra quyết định hủy bỏ lệnh kê biên.
No comments:
Post a Comment