1. Nguyên tắc
pháp chế XHCN (Điều 3)
Mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải
được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.
Đây là nguyên tắc bao trùm toàn bộ hoạt động TTHS
2. Nguyên tắc Tôn trọng và bảo vệ các
quyền cơ bản của công dân (Điều 4)
Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng CQĐT, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên,
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm
của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp
dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm
pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa.
3. Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng
trước PL (Điều 5)
TTHS
tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không
phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã
hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
4. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm
phạm về thân thể của công dân (Điều 6)
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định
của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm
tội quả tang.
Việc bắt và giam giữ người phải theo quy
định của Bộ luật này.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục
hình.
5. Nguyên tắc mọi công dân đều được bảo
hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản (Điều 7)
Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ
về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.
Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật.
Người bị hại, người làm chứng và người
tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính
mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo
quy định của pháp luật.
6. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm
phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8)
Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và
bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân.
Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ
và thu giữ thư tín, điện tín, khi tiến hành tố tụng phải theo đúng quy định của
Bộ luật này.
7. Nguyên tắc không ai bị coi là có tội
khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9)
Không ai bị coi là có tội và phải chịu
hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
No comments:
Post a Comment