Thursday, January 8, 2015

Một số vấn đề cơ bản của Luật hành chính



a) Luật hành chính là ngành luật về quản lý. Ngành luật này làm rõ những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: LHC xác định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan HCNN như Chính phủ, Bộ, UBND Tổng cụ, vụ, viện…
Thứ hai: LHC quy định đầy đủ và chi tiết về chế độ QLHCNN trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với mọi đối tương, từ đó xác ập trật tự QLHC cqaanf thiết để đảm bảo lợi ích nhà nước, tập thể và công nhân.
Thứ ba: LHC đề cập đến văn bản QLHC, cách trình bày về hình thức, bố cục, nội dung, thủ tục ban hành. Văn bản QLHCNN là phương tiện quản lý quan trọng của các chủ thể quản lý. Trong mỗi cơ quan, phần lớn mọi hoạt động từ của thủ trưởng đến nhân viên đều thể hiện bằng văn bản QLHCNN.
Thứ tư: Chế độ cán bộ công chức nhà nước là một nội dung cơ bản được thể hiện rất rõ trong LHC, là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thứ năm: Chế độ công vụ cũng là một nội dung cơ bản; chế độ công vụ là nguyên tắc xác định cán bộ công chức được làm gì, phải làm gì (chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép)
b) Đối tượng điều chỉnh:
LHC là ngành luật điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hành chính nhà nước được thực hiện bởi nhà nước hoặc nhân danh nhà nước. Đối tượng điều chỉnh cơ bản của LHC là những quan hệ quản lý hình thành trong quá trình hoạt động chấp hành - điều hành của các cơ quan HCNN.
- Những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của LHC rất phong phú, bao gồm 3 nhóm:
+ Nhóm các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan HCNN thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (CT, KT, VH, XH, QPAN trong cả nước, ở từng địa phương hay từng ngành). Chủ yếu là các quan hệ:
. Giữa cơ quan HCNN cấp trên với cấp dưới theo hệ thống dọc (giữa Chính phủ với UBND) hoặc với cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh (giữa BNV với SNV);
. Giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và CQNN có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (giữa Chính phủ với Bộ) hoặc với cơ quan chuyên môn trực thuộc nó (giữa UBND với sở).
. Giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương với cơ quan HCNN có thẩm quyền chung ở cấp tỉnh (giữa Bộ với UBND)
. Giữa những cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương, cơ quan này có quyền hạn nhất định đối với cơ quan kia nhưng không có sự lệ thuộc về tổ chức (giữa Bộ Tài chính với các bộ ngành khác trong lĩnh vực quản lý tài chính).
. Giữa cơ quan HCNN ở địa phương với các đơn vị trực thuộc trung ương đóng ở địa phương (giữa UBND với Bệnh viện tâm thàn TW2)
. Giữa cơ quan HCNN với đơn vị cơ sở trực thuộc( Bộ GD&ĐT với Trường đại học)
. Giữa cơ quan NN với các tổ chức kinh tế, tổ chức XH, với công dân…
+ Nhóm các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình (quan hệ cấp trên cấp dưới, quan hệ phối hợp hoạt động giữa các bộ phận...)
+ Nhóm các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân  và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động QLHCNN  trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định
- Nội dung của các mối quan hệ này thể hiện:
+ Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, chế độ làm việc, hoàn chỉnh các quan hệ công tác của CQNN;
+ Hoạt động quản lý KT, VH, XH, QP, ANTT trên cả nước, ở từng địa phương, từng ngành;
+ Trực tiếp phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân;
+ Hoạt động kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện pháp luật của các cơ quan, đơn vị trực thuộc, các tổ chức và cá nhân;
+ Xử lý các hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính.

No comments:

Post a Comment