8. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều
10)
CQĐT, VKS và TA phải áp dụng mọi biện
pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và
đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội,
những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị can, bị cáo.
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về
các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải
chứng minh là mình vô tội.
9. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11)
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có
quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
CQĐT, VKS, TA có nhiệm vụ bảo đảm cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định
của Bộ luật này.
10. Nguyên
tắc bảo đảm khách quan của những người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng
(Điều 14)
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV,
Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, KSV, Chánh án, Phó Chánh án TA, Thẩm phán,
Hội thẩm, Thư ký TA không được tiến hành
tố tụng hoặc người phiên dịch, người giám định không được tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ
có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình.
11. Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân thủ pháp luật
Điều
15. Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội
thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định
của Bộ luật này. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.
Điều
16. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật.
12. Nguyên tắc xét xử tập thể và công
khai của Tòa án
Điều
17. Toà án xét xử tập thể
Toà án xét xử tập thể và quyết định theo
đa số.
Điều
18. Xét xử công khai
Việc xét xử của Toà án được tiến hành
công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy
định.
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật
nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo
yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.
13. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trước Toà án (Điều 19)
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của
đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật,
đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án. Tòa án có trách nhiệm tạo
điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ
án.
14. Nguyên
tắc Bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Toà án (Điều 22)
Bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật phải được thi hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn
trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình
phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án và phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó.
Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ quan nhà
nước, chính quyền xã, phường, thị trấn, tổ chức và công dân phải phối hợp với
cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong việc
thi hành án.
Các cơ quan nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn
có trách nhiệm tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức có nhiệm
vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong việc thi hành án.
No comments:
Post a Comment