Thursday, January 8, 2015

CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC



1. Phương pháp thuyết phục:  Là phương pháp quản lý bao gồm một loạt những hoạt động như giải thích, hướng dẫn, động viên, khuyến khích, trình bày, chứng minh để đảm bảo sự cộng tác, tuân thủ hay phục tùng tự giác của đối tượng quản lý nhằm đạt được kết quả nhất định.
2. Phương pháp cưỡng chế nhà nước: Là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyề đối với một cá nhân hay tổ chức nhất định, về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức đó thực hiện những hành vi nhất định do phap luật quy định, hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của các cá nhân đó.
- Có 4 loại cưỡng chế nhà nước:
+ Cưỡng chế hình sự,
+ Cưỡng chế dân sự,
+ Cưỡng chế kỷ luật,
+ Cưỡng chế hành chính.
- Cưỡng chế hành chính có 4 nhóm:
+ Các biện pháp phòng ngừa hành chính,
+ Các biện pháp ngăn chặn hành chính,
+ Các biện pháp xử phạt hành chính,
+ Các biện pháp xử lý hành chính khác.
3. Phương pháp hành chính: Thường dùng văn bản quản lý bắt buộc từ trên xuống, nếu đối tượng quản lý không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật. Phương pháp này bao hàm cả 2 yếu tố thuyết phục và cưỡng chế
4. Phương pháp kinh tế: Đây là phương pháp dùng đòn bẩy kinh tế nhằm động viên tổ chức, cá nhân tích cực phát huy tài năng sáng tạo hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng hiệu quả cao, bảo đảm kết hợp lợi ích chung của xã hội và lợi ích cá nhân. Hoạt động quản lý này dựa trên cơ sơ trách nhiệm vật chất của đối tượng quản lý.

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH NHÀ NƯỚC



1.     Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong QLHCNN
Điều 4 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Đảng Công sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”
2.     Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý nhà nước
-         Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước
-         Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội
-         Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở
-         Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong QLHCNN
3.     Nguyên tắc tập trung dân chủ
Điều 6 Hiến pháp 1992 đã nêu: “Quốc hội, HĐND và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp giữa 2 yếu tố tập trung và dân chủ. Vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Cả 2 yếu tố này phải có sự phối hợp một cách đồng bộ, chặt chẽ với nhau, có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong QLNN
4.     Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của đảng ta đã chỉ rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc VN…các chính sách KT-XH phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”. Đồng thời Điều 5 Hiến pháp cũng đã xác định: “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”.
5.     Nguyên tắc pháp chế XHCN
- Điều 12 Hiến pháp đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng pháp chế XHCN”. Sự tôn trọng và tuân thủ triệt để pháp luật của các CQNN, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân trở thành một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
- Đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN trong QLHCNN thể hiện:
+ Trong hoạt động ban hành văn bản pháp luật: Các văn bản pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, tên gọi,có nội dung hợp pháp và thống nhất và được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định (Luật ban hành VBQPPL)
+ Trong hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật: Phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật; phải thực hiện giám sát, kiểm tra việc thi hành luật trong QLHCNN một cách nghiêm ngặt nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh

Quy phạm pháp luật hành chính



Là quy tắc xử sự chung, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực QLHCNN, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với những đối tượng có liên quan và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
- Quy phạm pháp luật hành chính thông thường quy định những nội dung sau:
+ Quy định quyền và nghĩa vụ các bên tham gia vào hoạt động QLHCNN
+ Quy định trình tự, thủ tục cần thiết cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
+ Quy định các biện pháp khen thưởng, cưỡng chế (chế tài).
- Do chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL rất nhiều nên văn bản QPPL có số lượng lớn và hiệu lực pháp lý khác nhau do vậy phải đòi hỏi tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN khi ban hành, đó là:
+ QPPLHC  do cơ quan cấp dưới ban hành phải phù hợp với QPPLHC do cơ quan cấp trên ban hành (Không trái)
+ QPPLHC do cơ quan địa phương ban hành phải phù hợp với QPPLHC do cơ quan trung ương ban hành
+ QPPLHC do cơ quan HCNN có thẩm quyền chuyên môn ban hành phải phù hợp với QPPLHC do cơ quan có thẩm quyền chung cùng cấp ban hành.
-         Phân loại QPPLHC:
+ QPPL của cơ quan quyền lực nhà nước:
. Luật là hình thức cao nhất, do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành và có hiệu lực pháp lý cao nhất. Chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ luật. Luật có thể bãi bỏ bất cứ VBQPPL nào khác, mặt khác các VBQPPL khác đều phải có nội dung phù hợp với luật và nhằ thi hành luật
 Hiến pháp: là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản của Nhà nước, quy định chế độ  CT, KT, VH, XH, chính sách đối nội, đối ngoại, ANQP, địa vị pháp lý của công dân, tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước… Như vậy Hiến pháp quy định những điều cơ bản có tính nguyên tắc, làm cơ sở cho toàn bộ hệ thống pháp luật, trong đó có LHC.
 Các Luật quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng, là những quy định cụ thể, chi tiết nhữg vấn đề cơ bản thuộc các lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước trên cơ sở của Hiến pháp.
. Nghị quyết của Quốc hội
. Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH;
. Nghị quyết của HĐND.
+ QPPL của Chủ tịch nước: Lệnh, Quyết định.
+ QPPL của cơ quan hành chính nhà nước:
. Nghị định của Chính phủ
. Thông tư của Bộ, cơ quan ngang Bộ
. Thông tư liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ
. Quyết định, Chỉ thị của UBND
+ QPPL của cơ quan tư pháp:
. Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC,
. Thông tư của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC
+ QPPL liên tịch: Thông tư liên tịch giữa Chánh án TANDTC với Viện trưởng VKSNDTC, giữa Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngay bộ với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC

Nguồn của Luật hành chính



Là những văn bản QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục và dưới những hình thức nhất định, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
- Luật ban hành VBQPPL số 17/2008/QH12 quy định:
Điều 1. Văn bản QPPL là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự thủ tục, được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản của HĐND, UBND, trong đó có các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.
Điều 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
4. Nghị định của Chính phủ.
5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
7. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
10. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
11. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
12. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
(bao gồm: Nghị quyết của HĐND, Chỉ thị, Quyết định của UBND).

Phương pháp điều chỉnh Luật hành chính



 Phương pháp điều chỉnh của LHC là phương pháp mệnh lệnh - đơn phương.  phương pháp này được xây dựng trên nguyên tắc:
- Xác nhận sự không bình đẳng giữa một bên có quyền nhân danh nhà nước (chủ thể quản lý) ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên kia là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (đối tượng quản lý) có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó (quan hệ quyền lực - phục tùng)
- Bên nhân danh nhà nước sử dụng quyền lưc nhà nước quyết định công việc một cách đơn phương. Quyết định đơn phương này có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên hữu quan và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.

Vai trò của Luật hành chính



- LHC là ngành luật điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hành chính nhà nước. LHC giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước. Các quy phạm pháp luật hành chính quy định chế độ pháp lý của các cơ quan HCNN, xác định các nguyên tắc cơ bản của QLHCNN và các vấn đề khác có liên quan tới QLHCNN. Thông qua đó LHC bảo đảm việc củng cố, hoàn thiện bộ máy HCNN và không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động QLHCNN
- LHC cũng quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác của QLHCNN, những biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó, tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia một cách tích cực vào hoạt động QLHCNN
- LHC xác định cơ chế QLHC trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế.
- LHC quy định những hành vi nào là vi phạm HC, biện pháp xử lý, thủ tục, thẩm quyền xử lý VPHC đối với những tổ chức, cá nhân thực  hiện VPHC

Một số vấn đề cơ bản của Luật hành chính



a) Luật hành chính là ngành luật về quản lý. Ngành luật này làm rõ những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: LHC xác định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan HCNN như Chính phủ, Bộ, UBND Tổng cụ, vụ, viện…
Thứ hai: LHC quy định đầy đủ và chi tiết về chế độ QLHCNN trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với mọi đối tương, từ đó xác ập trật tự QLHC cqaanf thiết để đảm bảo lợi ích nhà nước, tập thể và công nhân.
Thứ ba: LHC đề cập đến văn bản QLHC, cách trình bày về hình thức, bố cục, nội dung, thủ tục ban hành. Văn bản QLHCNN là phương tiện quản lý quan trọng của các chủ thể quản lý. Trong mỗi cơ quan, phần lớn mọi hoạt động từ của thủ trưởng đến nhân viên đều thể hiện bằng văn bản QLHCNN.
Thứ tư: Chế độ cán bộ công chức nhà nước là một nội dung cơ bản được thể hiện rất rõ trong LHC, là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thứ năm: Chế độ công vụ cũng là một nội dung cơ bản; chế độ công vụ là nguyên tắc xác định cán bộ công chức được làm gì, phải làm gì (chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép)
b) Đối tượng điều chỉnh:
LHC là ngành luật điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hành chính nhà nước được thực hiện bởi nhà nước hoặc nhân danh nhà nước. Đối tượng điều chỉnh cơ bản của LHC là những quan hệ quản lý hình thành trong quá trình hoạt động chấp hành - điều hành của các cơ quan HCNN.
- Những quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của LHC rất phong phú, bao gồm 3 nhóm:
+ Nhóm các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan HCNN thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (CT, KT, VH, XH, QPAN trong cả nước, ở từng địa phương hay từng ngành). Chủ yếu là các quan hệ:
. Giữa cơ quan HCNN cấp trên với cấp dưới theo hệ thống dọc (giữa Chính phủ với UBND) hoặc với cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh (giữa BNV với SNV);
. Giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và CQNN có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (giữa Chính phủ với Bộ) hoặc với cơ quan chuyên môn trực thuộc nó (giữa UBND với sở).
. Giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương với cơ quan HCNN có thẩm quyền chung ở cấp tỉnh (giữa Bộ với UBND)
. Giữa những cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương, cơ quan này có quyền hạn nhất định đối với cơ quan kia nhưng không có sự lệ thuộc về tổ chức (giữa Bộ Tài chính với các bộ ngành khác trong lĩnh vực quản lý tài chính).
. Giữa cơ quan HCNN ở địa phương với các đơn vị trực thuộc trung ương đóng ở địa phương (giữa UBND với Bệnh viện tâm thàn TW2)
. Giữa cơ quan HCNN với đơn vị cơ sở trực thuộc( Bộ GD&ĐT với Trường đại học)
. Giữa cơ quan NN với các tổ chức kinh tế, tổ chức XH, với công dân…
+ Nhóm các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình (quan hệ cấp trên cấp dưới, quan hệ phối hợp hoạt động giữa các bộ phận...)
+ Nhóm các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân  và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động QLHCNN  trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định
- Nội dung của các mối quan hệ này thể hiện:
+ Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, chế độ làm việc, hoàn chỉnh các quan hệ công tác của CQNN;
+ Hoạt động quản lý KT, VH, XH, QP, ANTT trên cả nước, ở từng địa phương, từng ngành;
+ Trực tiếp phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân;
+ Hoạt động kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện pháp luật của các cơ quan, đơn vị trực thuộc, các tổ chức và cá nhân;
+ Xử lý các hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT HÀNH CHÍNH



Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong qúa trình hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và ổn định chế độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân thực hiện hoạt động quản lý hành chính đối với các vấn đề cụ thể do pháp luật quy định
Luật hành chính là một ngành luật gắn liền với tổ chức, hoạt động QLHCNN
- Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý
- Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước
- Chủ thể của QLNN là các tổ chức, cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý. Chủ thể QLNN bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được nhà nước uỷ quyền thực hiện hoạt động QLNN.
- Khách thể của QLNN là trật tự QLNN. Trật tự QLNN do pháp luật quy định. Trật tự này được xác định trên tất cả các lĩnh vực QLNN.

Một số nhận thức cơ bản về luật dân sự Việt Nam



1. Khái niệm luật dân sự: Pháp luật dân sự là tổng hợp những nguyên tắc và quy phạm có nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ về sở hữu, về nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế, chuyển quyền sủ dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.
2. Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là những nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông, trao đổi nhằm thoả mãn các nhu cấu trong sản xuất hoặc tiêu dùng .
- Quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản nhất định như: tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng hoặc các quyền về tài sản.
- Quan hệ nhân thân đó là những quan hệ được hình thành từ một giá trị tinh thần của cá nhân hoặc một tổ chức (không có nội dung tài sản)
3. Sự ra đời của Bộ Luật dân sự
Bộ Luật dân sự được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995. Đây là một văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội. Sau hơn 9 năm thi hành, Bộ luật dân sự đã phát huy được vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích nhà nước và lợi ích công cộng.
Tuy nhiên qua quá trình thực hiện, Bộ luật dân sự năm 1995 đã bộc lộ những hạn chế, không đáp ứng được những nhu cầu mới của đất nước trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế, quốc tế.
Ngày 14/6/2005 Bộ luật dân sự được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua đã thay thế, sửa đổi và bổ sung nhiều quy định mới so với Bộ luật dân sự năm 1995
4. Bố cục của bộ luật dân sự năm 2005
BLDS năm 2005 gồm có 7 phần, 36 chương và 777 điều, giảm 61 điều so với Bộ luật dân sự năm 1995. BLDS năm 2005 được bố cục như sau:
Phần thứ nhất: Những quy định chung, gồm 9 chương:
- Chương I: Nhiệm vụ và hiệu lực của BLDS (từ Điều 1 đến Điều 3).
- Chương II: Những nguyên tắc cơ bản (từ Điều 4 đến Điều 13).
- Chương III: Cá nhân (từ Điều 14 đến Điều 83).
- Chương IV: Pháp nhân (từ Điều 84 đến Điều 105).
- Chương V: Hộ gia đình, tổ hợp tác (từ Điều 106 đến Điều 120).
- Chương VI: Giao dịch dân sự (từ Điều 121 đến Điều 138).
- Chương VII: Đại diện (từ Điều 139 đến Điều 148).
- Chương VIII: Thời hạn (từ Điều 149 đến ĐIều 153).
- Chương IX: Thời hiệu (từ Điều 154 đến Điều 162).
Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu, gồm 7 chương:
- Chương X: Những quy định chung (từ Điều 163 đến Điều 173).
- Chương XI: Các loại tài sản (từ Điều 174 đến ĐIều 181).
- Chương XII: Nội dung quyền sở hữu (từ Điều 182 đến Điều 199).
- Chương XIII: Các hình thức sở hữu (từ Điều 200 đến Điều 232).
- Chương XIV: Xác lập, chấm dứt quyền sở hữu (từ Điều 233 đến Điều 254).
- Chương XV: Bảo vệ quyền sở hữu (từ Điều 255 đến Điều 261).
- Chương XVI: Những quy định khác về quyền sở hữu (từ Điều 262 đến Điều 279).
Phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, gồm 5 chương:
- Chương XVII: Những quy định chung (từ Điều 280 đến Điều 427).
- Chương XVIII: Hợp đồng dân sự thông dụng (từ Điều 428 đến Điều 593).
- Chương XIX: Thực hiện công việc không có uỷ quyền (từ Điều 594 đến Điều 598).
- Chương XX: Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không xó căn cứ pháp luật (từ Điều 599 đến 603).
Chương XXI: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (từ Điều 604 đến Điều 630).
Phần thứ tư: Thừa kế, gồm 3 chương:
- Chương XXII: Những quy định chung (từ Điều 631 đến Điều 645).
- Chương XXIII: Thừa kế theo di chúc (từ Điều 646 đến Điều 673).
- Chương XXIV: Thừa kế theo pháp luật (từ Điều 674 đến Điều 680).
- Chương XXV: Thanh toán và phân chia di sản (từ Điều 681 đến Điều 687).
Phần thứ năm, Quy định về chuyển quyến sử dụng đất, gồm 8 chương
- Chương XXVI: Những quy định chung (từ Điều 688 đến Điều 692).
- Chương XXVII: Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất (từ Điều 693 đến Điều 696).
- Chương XXVIII: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (từ Điều 697 đến Điều 702).
- Chương XXIX: Hợp đồng thuê, thuê lại quyền sử dụng đất (từ Điều 703 đến Điều 714).
- Chương XXX: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (từ Điều 715 đến Điều 721).
- Chương XXXI: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (từ Điều 722 đến Điều 726).
- Chương XXXII: Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (từ Điều 727 đến Điều 732).
- Chương XXXIII: Thừa kế quyền sử dụng đất (từ Điều 733 đến Điều 735).
Phần thứ sáu: Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, gồm 3 chương:
- Chương XXXIV: Quyền tác giả và quyền liên quan (từ Điều 736 đến Điều 749).
- Chương XXXV: Quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (từ Điều 750 đến Điều 753).
- Chương XXXVI: Chuyển giao công nghệ (từ Điều 754 đến Điều 757).
Phần thứ bảy: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (từ Điều 758 đến Điều 777).

Các câu hỏi và đáp án tìm hiểu luật tố tụng hình sự



Câu 1. Đồng chí cho biết nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lời: Theo Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Bộ luật Tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Câu 2. Đồng chí cho biết cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm những cơ quan nào? Tương ứng với những cơ quan đó là những ai có thẩm quyền tiến hành tố tụng?
Trả lời: Theo Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
1. Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:
a) Cơ quan điều tra;
b) Viện kiểm sát;
c) Toà án.
2. Những người tiến hành tố tụng gồm có:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;
c) Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án.

Câu 3. Đồng chí hãy nêu khái niệm về "Người bị tạm giữ", "Bị can", "Bị cáo", "Người bị hại", "Người làm chứng"
Trả lời: Theo khoản 1 của các điều 48, 49, 50, 51, 55 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.
- Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.
- Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử.
- Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra.
- Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án.

Câu 4. Đồng chí cho biết những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Trả lời: Theo Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
3. Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Câu 5. Đồng chí cho biết Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định có những biện pháp ngăn chặn nào
Trả lời: Theo Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định có các biện pháp ngăn chặn sau đây:
- Bắt (Gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã)
- Tạm giữ,
- Tạm giam,
- Cấm đi khỏi nơi cư trú,
- Bảo lĩnh,
- Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm./.

Về thời hạn chuẩn bị xét xử trong bộ luật tố tụng hình sự

- Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa.
- Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây:
+ Đưa vụ án ra xét xử ;
+ Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
+ Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
- Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
- Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày.
- Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn mười lăm ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Về thẩm quyền của tòa án cao cấp



1. TAND cấp huyện và TAQS khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật Hình sự.
2. TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAQS khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
3. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do TAND cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án TAND tối cao ra quyết định giao cho TAND thành phố Hà Nội hoặc TAND TP HCM
4. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS thì do TAQS cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án TAQS trung ương.

Quy định về quyết định việc truy tố trong bộ luật tố tụng hình sự



- Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:
+ Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng;
+ Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
+ Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng VKS có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu.
- Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
- Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, VKS phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến TA.
- Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, VKS ra ngay quyết định chuyển vụ án cho VKS có thẩm quyền.

Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra được quy định như thế nào trong bộ luật tố tụng hình sự



1. Tạm đình chỉ điều tra
 Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra. Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì chỉ tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra.
Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
2. Kết thúc điều tra
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải làm bản kết luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
3. Đề nghị truy tố
- Khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố.
4. Đình chỉ điều tra
Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra trong những trường hợp sau đây:
- Có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật Hình sự;
- Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
5. Phục hồi điều tra
- Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong thời hạn 2 ngày, kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra, CQĐT phải gửi quyết định này cho VKS cùng cấp.
2. Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại điểm 5 (Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự) và điểm 6 (Tội phạm đã được đại xá) Điều 107 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc VKS cùng cấp ra quyết định phục hồi điều tra.